Đọc như ong làm mật: văn hóa đọc qua một đời người

Cuốn sách mở trên bàn gỗ trước cánh đồng và hàng cây, ảnh đại diện bài văn hóa đọc Đọc như ong làm mật của Bình Minh & The Lotus

Văn hóa đọc · Từ Khổng Tử, Seneca đến Chu Quang Tiềm

Có những cuốn sách ta đọc xong rồi quên. Có những trang chỉ đọc một lần mà mang theo cả đời. Khác biệt ấy, các bậc hiền triết từ Đông sang Tây đều chỉ về cùng một chỗ: không nằm ở số trang đã lật, mà ở những lúc ta dừng lại, nghĩ, và soi điều vừa đọc vào chính mình. Bài viết đi lại con đường ấy, từ Khổng Tử, Seneca đến Chu Quang Tiềm, để chia sẻ cách Bình Minh & The Lotus nghĩ về văn hóa đọc như sợi dây nối các thế hệ, từ lời ru đến trang sách trao lại cho con cháu, và về không gian đọc góp phần vun đắp văn hóa ấy.

Đọc ít mà kỹ, đến mức đổi thay khí chất

Với nhiều thế hệ học trò Việt Nam, “Bàn về đọc sách” của học giả Trung Quốc Chu Quang Tiềm (1897–1986) là một bài học quen thuộc trong sách Ngữ văn. Đoạn trích in trong sách mở đầu bằng một nhận định giản dị: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn” (Nguồn: Chu Quang Tiềm, “Bàn về đọc sách”). Rồi ông đưa ra lời khuyên mà nhiều người từng chép vào vở như một ý chính: “Đọc sách không cốt lấy nhiều, quan trọng nhất là phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ” (Nguồn: Chu Quang Tiềm, “Bàn về đọc sách”).

Có một câu trong bài đáng đọc lại khi ta đã đi qua nhiều năm tháng: “Đọc ít mà đọc kĩ, thì sẽ tập thành nếp suy nghĩ sâu xa, trầm ngâm tích luỹ, tưởng tượng tự do đến mức làm đổi thay khí chất; đọc nhiều mà không chịu nghĩ sâu, như cưỡi ngựa qua chợ, tuy châu báu phơi đầy, chỉ tổ làm cho mắt hoa ý loạn, tay không mà về” (Nguồn: Chu Quang Tiềm, “Bàn về đọc sách”).

Ngày còn đi học, đó là một đoạn trích để phân tích. Hôm nay, giữa những dòng tin trôi không dứt trên màn hình, nó giống một lời tả rất đúng về chính chúng ta: nhìn thấy rất nhiều, giữ lại rất ít. Điều đáng chú ý là Chu Quang Tiềm không hứa rằng đọc sách sẽ làm ta giỏi hơn hay thành công hơn. Ông nói đến khí chất: cái phong thái bền lâu của một con người, hiện ra trong cách nghĩ, cách nói, cách đứng trước được và mất.

Một trang sách không thay được hoàn cảnh của ai. Nhưng nó có thể thay cách ta đứng trước hoàn cảnh, và khi cách đứng đổi, con đường phía trước cũng dần khác. Có lẽ đó là nghĩa sâu nhất của niềm tin xưa nay rằng sách có thể đổi một đời người: không phải bằng phép màu, mà bằng việc lặng lẽ nắn lại chính người đọc.

Phương Đông: học mà không nghĩ thì mờ mịt

Hơn hai nghìn năm trăm năm trước, Khổng Tử đã nói điều cốt lõi ấy bằng hai vế cân nhau: “Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi”, học mà không nghĩ thì mờ mịt, nghĩ mà không học thì nguy (Nguồn: Luận ngữ, Vi chính 15). Đọc, vì thế, chưa bao giờ chỉ là việc của đôi mắt.

Mạnh Tử đi thêm một bước. Bàn về Kinh Thư, một trong những bộ sách cổ được tôn kính nhất thời ấy, ông nói: “Tận tín Thư tắc bất như vô Thư”, tin hết vào Kinh Thư thì chẳng bằng không có Kinh Thư (Nguồn: Mạnh Tử, Tận tâm hạ). Người đời sau rút gọn thành câu quen thuộc “tin hết vào sách thì chẳng bằng không có sách”, và giữ nó như một nguyên tắc đọc: kính trọng sách không có nghĩa là thôi suy xét.

Đời Tống, phép đọc sách của Chu Hy được các học giả biên tập thành sáu điều. Trong đó có “thục độc tinh tư”, đọc cho thuộc và nghĩ cho tinh. Có “hư tâm hàm vịnh”, mở lòng để chữ nghĩa thấm dần. Và có “thiết kỷ thể sát”, đem điều đọc được áp vào chính mình mà xét (Nguồn: Chu Tử độc thư pháp).

Trước đó chừng một thế kỷ, Tô Thức tiễn một người học trò thi hỏng trở về bằng hai câu thơ: “Cựu thư bất yếm bách hồi độc, thục độc thâm tư tử tự tri”, sách cũ đọc trăm lần chẳng chán, đọc kỹ nghĩ sâu, tự anh sẽ hiểu (Nguồn: Tô Thức, Tống An Đôn tú tài thất giải tây quy). Lời an ủi gửi người vừa trượt kỳ thi hóa ra lại là lời nhắc rằng sách không đọc để thi, mà để hiểu.

Ảnh màu năm 1915: một cụ đồ áo the, khăn xếp, ngồi trên ghế gỗ trong vườn ở Hà Nội, chăm chú đọc sách
Một nhà nho đọc sách trong vườn, Hà Nội, năm 1915. Ảnh màu autochrome của Léon Busy (1874–1951), thuộc phạm vi công cộng, nguồn Wikimedia Commons.

Người Việt cũng có một truyền thống như thế. Ở làng Trường Lưu (Hà Tĩnh), danh sĩ Nguyễn Huy Oánh mở trường học, dựng thư viện, sưu tầm và khắc in sách. Bộ mộc bản trường học Phúc Giang của dòng họ, gồm 383 tấm được khắc từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, còn lưu dấu ấn của năm nhà nho thuộc ba thế hệ (Nguồn: UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2016). Năm 2016, khối mộc bản ấy được ghi danh là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương (Nguồn: UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2016). Một dòng họ giữ sách qua ba thế hệ, có lẽ, là giữ một cách làm người.

Phương Tây: đọc như ong làm mật

Ở đầu kia thế giới, gần hai nghìn năm trước, triết gia La Mã Seneca viết cho người bạn trẻ Lucilius một lá thư về cách đọc. Ông ví người đọc với loài ong, và dặn rằng chúng ta nên học theo ong, sàng lọc những gì đã góp nhặt được từ nhiều trang đọc khác nhau (Nguồn: Seneca, Thư 84). Nhưng hút nhụy thôi chưa đủ: “Chúng ta phải tiêu hóa nó. Nếu không, nó chỉ đi vào trí nhớ, chứ không đi vào năng lực suy xét” (Nguồn: Seneca, Thư 84). Mật không phải là hoa. Mật là thứ con ong tự làm ra từ hoa.

Con ong mật mang đầy phấn hoa đậu trên bông hoa nhỏ màu vàng
Seneca ví người đọc với loài ong: bay qua nhiều loài hoa, rồi tự làm ra mật của mình. Ảnh: Gary Yost / Unsplash.

Hơn mười lăm thế kỷ sau, Francis Bacon viết trong tiểu luận “Of Studies” (Bàn về việc học): “Đừng đọc để phản bác, cũng đừng đọc để tin ngay, cũng đừng đọc để có chuyện mà nói, mà hãy đọc để cân nhắc và suy xét” (Nguồn: Bacon, “Of Studies”). Ông chia sách theo cách ta chia món ăn: có sách chỉ để nếm, có sách để nuốt, và “một số ít để nhai kỹ và tiêu hóa” (Nguồn: Bacon, “Of Studies”). Lời ấy gặp gỡ lạ lùng với chữ “chọn cho tinh” của Chu Quang Tiềm.

Đầu thế kỷ XX, Marcel Proust đi đến tận cùng ý ấy. Trong bài “Sur la lecture” (Về việc đọc), ông viết rằng ta cảm thấy rất rõ “sự minh triết của mình bắt đầu ở nơi minh triết của tác giả dừng lại” (Nguồn: Proust, “Sur la lecture”). Tác giả có thể đưa ta đến ngưỡng cửa, còn bước qua thế nào là phần ta phải tự làm lấy. Con ong chỉ thật sự là ong khi làm ra được mật của riêng mình.

Đặt những lời dặn ấy cạnh nhau, ta thấy Đông và Tây gặp nhau ở ba chữ. Chọn: đọc ít mà tinh, có sách chỉ nếm, có sách phải nhai kỹ. Nghĩ: không tin hết, không cãi bừa, mà cân nhắc. Thấm: đem điều đọc soi vào mình, tiêu hóa nó cho đến khi nó thành cách nghĩ, cách sống của chính mình. Chỉ khi ấy tầm nhìn mới thật sự rộng ra, và con người mới thật sự lớn lên. Đó là cách chúng tôi đọc các tác giả khi đặt họ cạnh nhau, một cách đọc của riêng mình, không phải một học thuyết có sẵn.

Đồ họa song ngữ về văn hóa đọc Đông – Tây: ba chữ Chọn, Nghĩ, Thấm cùng lời dặn của Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu Hy, Tô Thức, Chu Quang Tiềm, Seneca, Bacon và Proust
Đông và Tây cùng một lời dặn: chọn, nghĩ, thấm. Đồ họa: Bình Minh & The Lotus.

Văn hóa đọc hôm nay: không thiếu sách, chỉ thiếu thời gian chậm

Chúng ta chưa bao giờ có nhiều sách như bây giờ. Năm 2024, cả nước có 51.443 xuất bản phẩm với hơn 597 triệu bản, tương đương khoảng 5,9 bản sách cho mỗi người dân (Nguồn: Báo Văn hóa, 2025). Ngày 21/4 hằng năm được chọn làm Ngày Sách Việt Nam từ năm 2014 (Nguồn: Quyết định 284/QĐ-TTg, 2014), nay là Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam (Nguồn: Luật Thư viện 2019, Điều 30).

Những chồng sách cũ trên mặt bàn gỗ, phía sau là con phố Việt Nam nhòe màu
Sách chưa bao giờ nhiều như hôm nay. Điều hiếm dần là thời gian đủ chậm để đọc. Ảnh: Aiph Doan / Unsplash.

Thế nhưng có sách trong tay chưa phải là đã đọc. Thời gian của người trưởng thành bị chia nhỏ giữa cuộc họp, tin nhắn và việc nhà. Thói quen của đôi mắt cũng đổi theo những trang màn hình lướt nhanh.

Một phân tích tổng hợp năm 2018 trên tạp chí Educational Research Review gộp 54 nghiên cứu công bố từ năm 2000 đến 2017, với hơn 171.000 người tham gia, cho thấy người đọc hiểu văn bản in trên giấy tốt hơn trên màn hình, với mức chênh không lớn nhưng nhất quán (Nguồn: Educational Research Review, 2018). Khác biệt rõ nhất với văn bản thông tin và khi đọc trong giới hạn thời gian, và khoảng cách ấy còn tăng dần qua các năm (Nguồn: Educational Research Review, 2018). Đây là kết quả về mức độ hiểu văn bản, không phải một lời phán xét về công nghệ.

Nhà khoa học thần kinh nhận thức Maryanne Wolf gọi kiểu đọc ta đang dần đánh mất là “đọc sâu”: kiểu đọc cho ta thời gian để suy luận, để cân nhắc điều mình đọc có đúng không, và để đồng cảm với những góc nhìn khác mình (Nguồn: Science Friday, 2018). Theo bà, bộ não đọc thích nghi với phương tiện, nên thói quen lướt nhanh trên màn hình có thể theo ta vào cả những lúc cầm một cuốn sách giấy (Nguồn: Science Friday, 2018).

Nói cách khác, cái khó của hôm nay không phải là thiếu sách, mà là thiếu những khoảng thời gian đủ chậm để một trang sách kịp thấm. Vì vậy, một không gian đọc hôm nay khó giữ chân người đọc chỉ bằng thật nhiều sách và thật nhiều chỗ ngồi. Điều nó cần trao là thời gian chậm, và một lối vào đúng.

Bốn nhịp đọc để soi mình

Từ những lời dặn của người xưa, chúng tôi gom lại bốn nhịp đọc thật giản dị. Ở tuổi nào cũng có thể bắt đầu, ngay tối nay, với một cuốn sách sẵn có trên kệ nhà mình, đọc một mình hay đọc cùng một người thân.

  1. Chọn một trang, thay vì một chồng sách. Có khi là cuốn mình muốn đọc lại, có khi là cuốn cha mẹ, thầy cô hay một người bạn từng trao cho mình. Cho phép mình đọc ít đi một chút, để đọc kỹ hơn.
  2. Đọc chậm, và đọc lại câu chạm vào mình. Người xưa nói sách hay đọc trăm lần không chán. Có lẽ vì trang sách thì vẫn vậy, chỉ có người đọc mỗi lần quay lại đã lớn thêm một chút.
  3. Dừng lại, và tự hỏi. Câu này đúng với mình ở chỗ nào, còn chỗ nào mình nghĩ khác? Trân trọng sách, nhưng vẫn giữ cho mình quyền suy xét.
  4. Viết một dòng, sống thử một điều. Một câu ghi bên lề, một việc nhỏ làm khác đi trong tuần, hay một điều kể lại cho người thân nghe trong bữa cơm. Đó là lúc hoa thành mật.
Đồ họa song ngữ Việt – Anh: bốn nhịp đọc để soi mình, trên ảnh tách trà đặt trên trang sách chữ Hán
Bốn nhịp đọc để soi mình. Ảnh: 五玄土 ORIENTO / Unsplash. Đồ họa: Bình Minh & The Lotus.

Một thói quen cần thời gian để bén rễ. Trong một nghiên cứu theo dõi những người tập một việc mới mỗi ngày, con số ở giữa là 66 ngày để việc ấy trở nên gần như tự nhiên. Có người chỉ cần 18 ngày, có người cần đến 254 ngày, và lỡ một hôm cũng không làm hỏng cả chặng đường (Nguồn: European Journal of Social Psychology, 2010). Nghiên cứu ấy không bàn về việc đọc sách, nhưng gợi một điều dịu dàng: thói quen đọc không cần hoàn hảo, chỉ cần đều đặn, và kiên nhẫn với chính mình. Kiên nhẫn ấy có khi kéo dài cả một đời.

Một đời người, một đời đọc

Có lẽ việc đọc bắt đầu sớm hơn ta tưởng, từ trước cả khi ta biết mặt chữ. Người xưa đã nói đến thai giáo. “Nhan thị gia huấn” chép rằng các bậc thánh vương thuở trước có phép dạy con từ trong thai: người mẹ giữ cho mắt không nhìn điều lệch, tai không nghe điều càn (Nguồn: Nhan thị gia huấn, thiên Giáo tử). Trong một nghiên cứu khoa học, các bà mẹ đọc to một đoạn truyện mỗi ngày suốt sáu tuần cuối thai kỳ, và sau khi chào đời, các em bé tỏ ra ưa nghe đoạn truyện quen ấy hơn một đoạn lạ (Nguồn: Infant Behavior and Development, 1986).

Đó là một nghiên cứu nhỏ, chỉ cho thấy sự quen thuộc với giọng và nhịp đọc, không nói gì về trí tuệ. Nhưng nó gợi một hình ảnh đẹp: trước khi hiểu được chữ, ta đã quen với giọng nói của người thương đọc những dòng chữ ấy.

Rồi ta lớn lên cùng lời ru, cùng những cuốn sách bìa cứng bị bàn tay nhỏ làm nhàu, những tối cha mẹ, ông bà hay một người thương đọc truyện bên gối. Thầy cô dạy ta nâng niu một cuốn sách và những điều nó trao. Đến tuổi trưởng thành, có cuốn sách một người bạn tặng mà ta nhớ mãi, cuốn đã cùng ta đi qua những ngày mỏi mệt và làm niềm vui của những ngày gặt hái thêm trọn vẹn. Khi tóc đã bạc, sách thành người bạn tâm giao, giúp ta nhìn lại những năm tháng đã qua, để có đôi điều kể lại cho con cháu, bạn bè.

Đông và Tây đều từng nói điều ấy. Hơn hai nghìn năm trước, nhà hùng biện La Mã Cicero viết rằng văn chương nuôi dưỡng tuổi trẻ, làm vui tuổi già, tô điểm những ngày thuận, là chốn nương tựa và niềm an ủi những ngày nghịch, ở bên ta trong nhà, qua đêm dài và trên đường xa (Nguồn: Cicero, Pro Archia 16).

Văn nhân đầu đời Thanh Trương Triều thì ví: tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua khe cửa, tuổi trung niên như ngắm trăng giữa sân, tuổi già như thưởng trăng trên đài cao. Đọc được sâu đến đâu là tùy ta đã sống sâu đến đâu (Nguồn: Trương Triều, U mộng ảnh). Vầng trăng vẫn thế, chỉ người ngắm trăng đã khác.

Và chẳng có tuổi nào là muộn. Sách “Thuyết uyển” chép chuyện Tấn Bình Công bảy mươi tuổi muốn học mà sợ đã quá muộn. Nhạc sư Sư Khoáng đáp: trẻ mà ham học như mặt trời buổi sớm, tráng niên ham học như nắng giữa trưa, già mà ham học như ánh nến thắp lên, vẫn hơn bước đi trong bóng tối (Nguồn: Lưu Hướng, Thuyết uyển, thiên Kiến bản).

Việc đọc cũng không chỉ đi một chiều, từ người lớn xuống người nhỏ. Có những buổi chiều cháu đọc cho bà nghe khi mắt bà đã mờ, những bữa cơm con kể lại cho cha mẹ một điều vừa học được. Một cuốn sách có thể đi qua ba thế hệ, như bộ mộc bản Phúc Giang đi qua ba thế hệ nhà nho, mỗi người để lại trong đó một nếp gấp, một dòng ghi chú, một kỷ niệm. Với chúng tôi, đó là nghĩa giản dị nhất của hai chữ gắn kết: cùng đọc, và trao lại cho nhau.

Đồ họa song ngữ Việt – Anh: một đời người, một đời đọc, năm chặng từ giọng nói người thương trước khi biết chữ đến người bạn tâm giao tuổi bạc tóc, ba lần ngắm trăng của Trương Triều và vòng đọc trao lại giữa ba thế hệ
Một đời người, một đời đọc: từ giọng nói đầu tiên đến trang sách trao lại cho con cháu. Đồ họa: Bình Minh & The Lotus.

Sáu câu hỏi đi cùng một đời người

Nếu việc đọc đi cùng ta cả một đời, thì đi cùng việc đọc là những câu hỏi. Năm 1897, họa sĩ Paul Gauguin đặt tên cho một bức tranh khổ lớn bằng ba câu hỏi: “Chúng ta từ đâu đến? Chúng ta là ai? Chúng ta đi về đâu?” (Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Boston). Chúng tôi trải ba câu hỏi ấy thành sáu, theo nhịp một đời người: từ cội nguồn, đến những điều được trao lại, những bài học của thiên nhiên và của người xưa, con người ta muốn trở thành, và nơi ta sẽ đến.

Chúng tôi chưa có lời giải trọn vẹn cho câu hỏi nào, và vẫn đang tìm, qua những trang sách các thế hệ trước để lại như những ngọn đèn soi đường.

Đồ họa song ngữ Việt – Anh: sáu câu hỏi nối thành một hành trình đời người, từ “Ta từ đâu đến?” đến “Ta sẽ đến đâu?”, mỗi câu hỏi kèm một dòng ý nghĩa và một trang sách soi đường
Sáu câu hỏi, một hành trình đời người: mỗi câu hỏi một trang sách soi đường. Đồ họa: Bình Minh & The Lotus.

Ta từ đâu đến? Câu hỏi đầu tiên lớn như chính loài người: vũ trụ bắt đầu ra sao, sự sống và các nền văn minh đã đi qua những chặng nào. Một ngọn đèn chúng tôi tìm đến là “Giai điệu bí ẩn” của Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn nhận giải Kalinga của UNESCO năm 2009 (Nguồn: UN News, 2009). Rồi câu hỏi lớn ấy thu lại thật gần: ta đến từ vòng tay của cha mẹ. Hiếu Kinh dạy “hiếu là gốc của đức” (Nguồn: Hiếu Kinh, chương 1). Năm 1849, Nguyễn Đình Chiểu bỏ khoa thi ở Huế về chịu tang mẹ, đau buồn đến lâm bệnh rồi mù cả hai mắt (Nguồn: Trường Chính trị Phạm Hùng, Vĩnh Long).

Ta trao lại cho nhau điều gì? Người xưa thường trả lời bằng những lời dặn trong nhà. Khổng Tử hỏi con bên sân đã học Thi, học Lễ chưa (Nguồn: Luận ngữ, Quý thị 13). Gia Cát Lượng dặn con: “Không đạm bạc thì không sáng được chí, không yên tĩnh thì không đi được xa” (Nguồn: Giới tử thư).

Có khi điều được trao lại trở về thành lời tri ân. Khi vừa được giải Nobel Văn chương năm 1957, Albert Camus viết thư cảm ơn người thầy tiểu học của mình (Nguồn: Open Culture, 2014). Cuốn sách chúng tôi mong cả nhà cùng đọc là “Những tấm lòng cao cả” của Edmondo De Amicis, nhật ký một cậu học trò xen những lá thư cha mẹ gửi con. Có lẽ điều quý nhất một thế hệ trao cho thế hệ sau không phải là một tủ sách, mà là thói quen cùng nhau mở một trang.

Thiên nhiên dạy ta điều gì? Văn chương về thiên nhiên và khoa học về sự sống cùng chỉ về một điều: mỗi loài có lý lẽ riêng, và các loài cần đến nhau. “Mùa xuân vắng lặng” của Rachel Carson (1962) cho thấy chất độc rải xuống một mắt xích lan qua cả chuỗi sự sống, đến khi mùa xuân không còn tiếng chim. Người Nhật có “shinrin-yoku”, cách đi chậm trong rừng bằng mọi giác quan. Còn Lão Tử nói gọn trong bốn chữ “Đạo pháp tự nhiên” (Nguồn: Đạo đức kinh, chương 25), với “tự nhiên” hiểu là “tự nó như thế”.

Người xưa đã sống thế nào cho phải? Chúng tôi đọc hiền triết Đông và Tây cạnh nhau, như nghe một cuộc đối thoại. Marcus Aurelius ghi những dòng suy tưởng cho riêng mình giữa chiến trận, cho thấy tư tưởng chỉ trọn vẹn khi được sống. Người Việt có La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp bàn về phép học với vua Quang Trung (Nguồn: Ngữ văn 8), có Nguyễn Trường Tộ, người xứ Nghệ, với những bản điều trần lo vận nước (Nguồn: Tạp chí Khoa học ĐH Sư phạm TP.HCM). Và “Luận ngữ” mở đầu bằng hai niềm vui giản dị: học rồi thường ôn lại, có bạn từ phương xa đến (Nguồn: Luận ngữ, Học nhi 1).

Ta muốn trở thành người thế nào? Đường Thái Tông nói: lấy đồng làm gương thì sửa được mũ áo, lấy xưa làm gương thì biết được thịnh suy, lấy người làm gương thì rõ chỗ được, chỗ mất của mình (Nguồn: Cựu Đường thư, quyển 71). Những câu chuyện kinh điển là tấm gương thứ ba. Ông quan tòa Ivan Ilyich của Tolstoy đến cuối đời mới tự hỏi mình đã sống đúng chưa. “Câu chuyện dòng sông” của Hermann Hesse kể về một người đi tìm chính mình bằng cách lắng nghe dòng sông. Soi vào họ, ta thấy rõ hơn chính mình.

Ta sẽ đến đâu? Câu hỏi cuối gặp lại câu hỏi đầu, và chạm đến thời gian, mất mát, hy vọng. Mỗi truyền thống đáp lời bằng tiếng nói của mình. Thánh Augustine mở đầu “Tự bạch” bằng lời cầu nguyện rằng lòng người còn khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên nơi Đấng đã dựng nên mình (Nguồn: Augustine, Confessiones I, 1). Thiền sư Mãn Giác, khi lâm bệnh, nhắc học trò rằng xuân qua trăm hoa rụng, nhưng đêm qua trước sân một cành mai vẫn nở (Nguồn: Báo Pháp luật TP.HCM). Tagore viết rằng người lữ khách phải gõ cửa mọi nhà xa lạ mới về được đến nhà mình (Nguồn: Tagore, Gitanjali, bài 12).

Còn Blaise Pascal, nhà toán học từng cùng Fermat đặt nền cho lý thuyết xác suất (Nguồn: Encyclopædia Universalis), nhắc rằng trái tim có những lý lẽ mà lý trí không hề biết (Nguồn: Pascal, Pensées). Những trang sách nhắc đến ở đây chưa phải là lời giải, mà là những người bạn đồng hành, và danh sách ấy sẽ còn dài thêm theo năm tháng.

Năm 1903, Rainer Maria Rilke khuyên một nhà thơ trẻ hãy kiên nhẫn với những điều chưa có lời giải trong lòng, và hãy sống cùng chính những câu hỏi. Rồi một ngày xa nào đó, không hề hay biết, anh sẽ dần sống mà đi vào lời giải (Nguồn: Rilke, Briefe an einen jungen Dichter). Sáu câu hỏi trên vẫn đang đi cùng chúng tôi như thế. Hành trình tìm lời giải còn tiếp diễn, và chúng tôi mong được đi cùng những người đọc khác trên con đường ấy.

Không gian đọc mà Bình Minh & The Lotus hướng đến

Khi nghĩ về một không gian đọc, Bình Minh & The Lotus không hướng đến một căn phòng thật nhiều sách, mà hướng đến một điều lâu dài hơn: góp phần vun đắp một văn hóa đọc tốt đẹp, nơi đọc chậm, nghĩ sâu và soi mình dần thành nếp sống chung của nhiều thế hệ.

(Xem thêm: Wellness toàn diện: không phải làm nhiều hơn, mà là kết nối phù hợp hơn)

Vì thế, chúng tôi mong muốn bắt đầu từ một câu hỏi giản dị: một đứa trẻ, một người đang đi làm, một người đã nghỉ hưu, mỗi người cần gì để ở lại với trang sách lâu hơn một chút, và ra về với một điều đáng lưu giữ hơn lúc đến?

Thế giới có những bài học đáng suy ngẫm. Năm 1841, nhà văn Thomas Carlyle cùng những người bạn lập nên Thư viện London, với niềm tin rằng cánh cửa đến với sách và tư tưởng nên rộng mở hơn (Nguồn: The London Library). Gần hai thế kỷ sau, thư viện vẫn sống nhờ khoảng 7.500 thành viên gắn bó (Nguồn: The London Library).

Ở Việt Nam, Thư viện Dương Liễu (Hoài Đức, Hà Nội) mở cửa ngày 11/9/2013. Đến năm 2024, thư viện có hơn 13.000 đầu sách, báo, truyện tranh, 3.500 thẻ bạn đọc, đã tổ chức hơn 150 sự kiện, và chia sẻ kinh nghiệm vận hành với 38 thư viện ở hơn 15 tỉnh, thành (Nguồn: Nông nghiệp và Môi trường, 2024). Đặt hai nơi rất khác nhau ấy cạnh nhau, chúng tôi thấy một điều chung: văn hóa đọc không đến từ số sách trên kệ, mà từ một cộng đồng người đọc được vun đắp bền bỉ, từ năm này qua năm khác, thế hệ này sang thế hệ khác.

Một cộng đồng người đọc, theo cách chúng tôi hiểu, là những người cùng mang theo những câu hỏi của đời mình, và trao cho nhau những trang sách đã soi đường cho mình. Nhà nghiên cứu thông tin Lennart Björneborn cho rằng người thiết kế không thể tạo ra sự tình cờ, chỉ có thể tạo điều kiện để sự tình cờ xảy ra (Nguồn: Journal of Documentation, 2017). Vì vậy, không gian đọc chúng tôi hướng đến là nơi những câu hỏi lớn được để ngỏ, nơi người đọc có thể tự bắt gặp cuốn sách của mình, và cũng có thể nhận một cuốn sách được trao bằng cả tấm lòng.

Bên cạnh sách là những điều nhỏ làm nên một sắc thái đọc riêng. Đó là ánh sáng đủ dịu cho cả đôi mắt trẻ thơ lẫn đôi mắt đã đi qua nhiều năm tháng, những khoảng yên tĩnh thật sự, và màu xanh của cây lá để người đọc thỉnh thoảng ngẩng lên giữa các trang. Đó là một góc nhỏ để cha mẹ đọc cho con nghe, và những cuốn sổ đặt cạnh kệ, nơi mỗi người để lại một dòng suy ngẫm cho người đến sau, có khi là cho một người ở thế hệ khác.

Đó là những người giữ kệ hiểu sách đủ sâu để gợi ý một trang nên đọc trước. Và đó là những buổi đọc cùng nhau đều đặn, cùng giờ, cùng chỗ, có khi ông bà và cháu ngồi chung một bàn, để một thói quen có đủ thời gian thành nếp. Như với những cây đàn Việt “thưa âm mà sâu” (xem bài “Thưa âm mà sâu”), điều chúng tôi theo đuổi là chiều sâu, không phải số lượng.

Chúng tôi mong rằng khi nhắc đến Bình Minh & The Lotus, người ta sẽ nhớ đến một nơi đủ tĩnh để tâm trí sáng ra, đủ ấm để nhiều thế hệ ngồi lại bên nhau. Và hơn một chỗ ngồi đẹp hay một sự đón tiếp chu đáo, người ta sẽ nhớ đến một cách đọc có thể mang về nhà. Một văn hóa đọc tốt đẹp không dựng lên trong một ngày. Nó lớn lên từ từng câu hỏi, từng người đọc, từng buổi sáng có ai đó mở một cuốn sách, ở lại với nó lâu hơn một chút, rồi kể lại cho một người thân nghe.

Cuốn sách dựng trên bậu cửa gỗ, ngoài khung cửa là những tán lá sen và mặt sông
Một cuốn sách bên khung cửa nhìn ra lá sen. Ảnh: Phix Nguyen / Unsplash.

Một câu hỏi để lại

Có câu văn nào đã ở lại với bạn lâu nhất? Có thể là một câu bạn bắt gặp năm mười tám tuổi, một câu cha mẹ từng đọc cho bạn nghe, hay một câu bạn mong sẽ đến một ngày được trao lại cho con cháu.

Hãy chia sẻ với Bình Minh & The Lotus những câu văn ấy, kèm tên cuốn sách, và nếu muốn, đôi dòng về người đã trao nó cho bạn. Những câu sách được gửi về sẽ là những ngọn đèn nhỏ trên hành trình tìm lời giải mà chúng tôi vẫn đang tiếp bước, cùng bạn.

Bài viết tổng hợp tư liệu và nghiên cứu đã công bố để chia sẻ góc nhìn về văn hóa đọc. Nguồn của mỗi dẫn chứng được ghi ngay sau dẫn chứng. Các nghiên cứu được nêu đúng phạm vi đã công bố, không nhằm đưa ra lời khuyên y khoa. Các trích dẫn từ tiếng Hán, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Latinh do Ban biên tập chuyển ngữ, riêng “Bàn về đọc sách” dẫn theo bản dịch của Trần Đình Sử. Tên sách, tác giả chỉ nhằm giới thiệu, không hàm ý quan hệ hợp tác với nhà xuất bản nào. Ảnh trong bài là ảnh chụp thật, dùng theo giấy phép ghi dưới mỗi ảnh. Tên tổ chức, thư viện, tạp chí chỉ nhằm dẫn nguồn.


Tin liên quan